noscript_content

update_flash

get_adobe_flash

NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở XU-ĐĂNG
Thứ hai, 08 Tháng 3 2010 20:30

 Xu-đăng có nguồn tài nguyên nông nghiệp rất trù phú: khoảng 300-400 triệu feddan đất trồng (1 feddan bằng khoảng 4,2 km2), 135 triệu đầu gia súc, các nguồn lợi thủy hải sản, rừng, và rất phong phú các loại tài nguyên thiên nhiên. Hội nghị Lương thực tổ chức ở Rome năm 1974 đã gọi Xu-đăng là Giỏ Lương  Thực của Thế Giới; do Xu-đăng có thể cung cấp đủ lương thực cho một phần tư dân số thế giới và năm lần dân số vùng Ả Rập nếu tiềm năng nông nghiệp của Xu-đăng được khai thác đầy đủ và sử dụng đúng cách.

 

Ngành Nông nghiệp đóng góp rất nhiều vào kinh tế quốc dân và vào các ngành công nghiệp khác như dệt kim, mía đường, dầu ăn, đồ hộp, sản phẩm sữa và gỗ.

 

QUY HOẠCH NÔNG NGHIỆP

 

Việc trồng trọt ở Xu-đăng được tiến hành theo 3 cách thức: tưới tiêu nhân tạo, tưới tiêu tự nhiên cơ giới hóa và tưới tiêu tự nhiên theo phương pháp truyền thống.

 

1-     Tưới nhân tạo:

Hoa màu sản xuất theo phương pháp tưới nhân tạo đóng góp 64% GDP. Khu vực này sử dụng phần lớn vật tư nông nghiệp nhập khẩu. Đất nông nghiệp bằng phương pháp tưới nhân tạo ở cả khu vực tư nhân và Nhà nước có diện tích khoảng 2 triệu hecta, với phần lớn nước tưới được lấy từ sông Nile và các nhánh sông của nó, nước tưới nhân tạo được bơm đẩy từ các con đập hoặc nước này sẽ theo lũ từ sông Gash hoặc sông Toker tràn vào. Các vụ mùa được canh tác theo phương pháp này gồm có đường, bông, lúa miến (một loại kê địa phương), hạt lạc, rau củ, hoa quả và cỏ khô xanh.

 

2-     Tưới tự nhiên cơ giới hóa:

Phương pháp này được áp dụng từ những năm 1940, được coi là phương pháp thích hợp nhất cho các đồng bằng nửa đất sét do tính chất bùn nặng của đất, do diện tích đất rộng với mật độ dân số thưa và sự khan hiếm nước trong mùa vụ. Sản xuất cá thể chiếm 78% trong tổng số đất phân phối và 65% tổng diện tích đất.

 

Lúa miến là cây trồng chính của phương pháp này, chiếm khoảng 85% diện tích canh tác, tiếp đó là vừng 10%, bông, kê, hướng dương và đậu guar (một loại đậu đũa) chỉ chiếm một phần nhỏ. Tưới tự nhiên cơ giới hóa sản xuất 65% sản lượng lúa miến và 53% sản lượng hạt vừng trong tổng sản phẩm các cây trồng này ở Xu-đăng.

 

3-     Tưới tự nhiên theo phương pháp truyền thống

Phương pháp trồng trọt này được áp dụng trên khoảng 9 triệu hecta đất trồng, chủ yếu ở khu vực miền Tây, miền Nam và miền Trung Xu-đăng. Vai trò của phương pháp này thế hiện ở việc sản lượng kê chiếm 90%, sản lượng lúa miến 48% và 100% sản lượng gôm Ả Rập trong tổng số lượng các sản phẩm này trên toàn quốc. Nghề chăn nuôi cũng đóng vai trò quan trọng trong ngành này.

 

CÁC VỤ MÙA Ở XU-ĐĂNG

 

 

I - Ngũ cốc

1. Các loại ngũ cốc như lúa miến, kê, gạo và lúa mỳ.

2. Các loại hạt lấy dầu như vừng, lạc, hướng dương. Các vụ mùa hứa hẹn như cây rum, củ cải đường và đậu nành. Hạt bông là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất dầu ăn.

3. Rau, đậu tằm, các loại đậu, đậu Ấn Độ, đậu lăng, đậu lupin và đậu đũa.

4. Các loại cây lấy sợi: bông là cây lấy sợi chính, cây dâm bụt Đông Ấn Độ cũng được trồng với số lượng ít hơn.

5. Vụ cỏ, sản lượng ước tính là 86,6 triệu tấn cỏ khô mỗi năm. Bao gồm cỏ tự mọc, phế thải từ các sản phẩm nông nghiệp, cỏ xanh, cỏ tinh chất và lá mía.

 

II- Rau quả

 

 

Rau củ: tỏi, cà chua, mướp tây, cà tím, khoai tây, dưa hấu, rau xanh. Tỏi và cà chua chiếm hơn 50% diện tích trồng rau củ ở Xu-đăng và là loại rau củ chính trong cơ cấu thực phẩm.

 

 

Sự đa dạng các kiểu khí hậu, đất và nguồn nước đầy đủ tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất các loại hoa quả từ nhiệt đới đến xích đạo.

 

CÁC LOẠI CÂY TRỒNG LÀM THUỐC VÀ HƯƠNG LIỆU

Đây là nguồn chính cung cấp các loại thuốc và gia vị. Chúng cũng là thành phần chính để làm nước hoa, mỹ phẩm và dùng trong sản xuất dược liệu.

Nguồn gốc các loại cây này được phân chia thành các loại như sau:

  1. Cây mọc tự nhiên.
  2. Cây được nhập vào và được lai ghép để thích ứng với môi trường ở Xu-đăng.
  3. Các loại cây nhập khẩu và trồng ở Xu-đăng.

 

RỪNG VÀ CÁC SẢN PHẨM RỪNG

 

Xu-đăng được thiên nhiên ưu đãi với nhiều kiểu rừng cung cấp gỗ cho công nghiệp, như rừng Sunt (rừng cây Acacia) và các loại rừng bản địa Châu Phi như rừng cây gỗ gụ, gỗ  tếch, thường được sử dụng cho sản xuất các loại đồ gỗ xa xỉ.

 

Các khu rừng cung cấp khoảng 78% nhu cầu năng lượng ở Xu-đăng, tương đương 4.011.000 tấn các sản phẩm xăng dầu, và với khối lượng này, việc nhập khẩu có thể là một gánh nặng đối với nền kinh tế.

 

Sau quá trình tìm hiểu và khai thác dầu với số lượng lớn ở Xu-đăng, Chính phủ khuyến khích sử dụng ga, đồng thời đưa ra các đạo luật cấm chặt cây để bảo tồn rừng và ngăn chặn các hành động làm suy thoái môi trường.

 

 BẢO VỆ MÙA MÀNG

 

 

 

Việc bảo vệ mùa màng ở Xu-đăng bắt đầu từ năm 1903, bao gồm các nghiên cứu kiểm soát sâu bọ gây hại. Các cơ quan hữu quan trong lĩnh vực bảo vệ mùa màng, trong các dự án tưới tiêu như Gezira, Rahad, Suki và Halfa, có thẩm quyền đưa ra các quyết định liên quan đến các biện pháp bảo vệ mùa màng bên cạnh các biện pháp ngừa bệnh như sử dụng nguồn giống sạch. Cơ quan Bảo vệ Cây trồng Trung Ương có trách nhiệm xử lý các loại sâu bệnh lây lan trên phạm vi quốc gia tồn tại trong các kho chứa, các loại thủy sinh gây hại trong nước sông Nile, châu chấu, chim gây hại và chuột bọ. Những nông dân trông trọt cũng sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc trừ cỏ để bảo vệ mùa màng của họ.

 

KIỂM DỊCH TRONG NÔNG NGHIỆP

 

Xu-đăng là một trong những nước tiên phong ở Châu Phi và Thế giới A-Rập ban hành luật và thông qua cơ sở pháp lý để bảo vệ các sản phẩm nông nghiệp. Đạo luật kiểm dịch nông nghiệp đầu tiên được ban hành năm 1911 và có hiệu lực vào năm 1913.

 

Công tác kiểm dịch nông nghiệp bảo vệ các nguồn lực quốc gia của Xu-đăng chống lại các sâu bệnh gây hại và ngăn chặn sự phát triển của chúng. Công tác này cũng góp phần bảo vệ cây trồng đã được canh tác chống lại sự phá hoại của sâu bệnh và giúp cho các sản phẩm nông nghiệp của Xu-đăng không chứa các sâu bệnh gây hại cần kiểm dịch theo thỏa thuận quốc tế về kiểm dịch đối với các loại sâu bệnh.

 

QUY HOẠCH NÔNG NGHIỆP QUỐC GIA

 

Quy hoạch đất sử dụng hệ thống nông nghiệp tưới tiêu nhân tạo ở Xu-đăng chiếm khoảng 4 triệu feddan (khoảng 1,68 triệu hecta), được quản lý công cộng.

 

Trong khuôn khổ chính sách tư nhân hóa được Chính phủ triển khai, rất nhiều khu vực quy hoạch nông nghiệp được chuyển thành các công ty nông nghiệp; hệ thống bơm dọc sông Nile Xanh (với diện tích 730.000 feddan) và sông Nile Trắng (620.000 feddan), hệ thống bơm nhánh chính của sông Nile (400.000 feddan), quy hoạch diện tích trồng cây lấy đường trên sông Nile Trắng (Kenana và Hajar Asalaya, với diện tích 110.000 feddan), diện tích trồng cây lấy đường dọc sông Nile Xanh (quy hoạch cây keo phía Tây Bắc, diện tích 75.000 feddan; và Quy hoạch diện tích trồng cây lấy đường New Halfa, diện tích 83.000 feddan). Các dự án quy hoạch nông nghiệp dự tính bao phủ khoảng 3 triệu feddan đất, bao gồm: Gezira, Rahad, Suki và New Halfa.

 

1-     Quy hoạch Gezira:

 

Đây là quy hoạch nông nghiệp cổ nhất ở Xu-đăng, được thiết lập vào năm 1925 và là hệ thống tưới tiêu nhân tạo lớn nhất thế giới với diện tích bao phủ 2,1 triệu feddan. Quy hoạch này trải dài qua các bang Gezira và Sennar, toàn bộ diện tích được tưới tiêu bằng dòng chảy. Quy hoạch phụ thuộc vào kiểu sở hữu trang trại nhỏ với diện tích từ 15 đến 40 feddan.

 

Quy hoạch này chiếm khoảng 65% sản lượng bông cả nước, 70% sản lượng lúa mỳ, 15% sản lượng lạc, 12% lúa miến, ngoài ra còn canh tác 70.000 feddan các sản phẩm rau quả, lâm sản và cỏ khô. Ngoài ra còn có khoảng 2 triệu đầu gia súc và dê trong vùng quy hoạch.

 

Dự án quy hoạch đã tạo cơ hội lớn cho việc đầu tư vào ngành nông nghiệp, dệt kim, ngũ cốc , dầu ăn và ngành thực phẩm.

 

Năm 2005, một đạo luật mới cho Dự án Quy hoạch Gezira đã được ban hành trong khuôn khổ chính sách tư nhân hóa.

 

Luật Quy hoạch Gezira năm 2005

 

Với tính chất đặc biệt của Dự án Quy hoạch về quyền sở hữu (sở hữu Nhà nước, Cơ quan Hành chính và nông dân) và theo chính sách tư nhân hóa đã được công bố và nhu cầu cải cách thể chế, Luật Quy hoạch Gezira được ban hành năm 2005. Luật này quy định cơ sở vật chất của Dự án được coi như một nguồn tài nguyên quốc gia, nhấn mạnh sự gắn kết giữa đất Dự án và các mục tiêu nông nghiệp, sự thống nhất các cơ quan quản lý Dự án – bao gồm các nghiên cứu nông nghiệp, nghiên cứu về hệ thống tưới tiêu, các thành phần nông nghiệp và công nghiệp – cần được coi là nhân tố thiết yếu và là thành phần cơ bản. Hơn nữa, Luật cũng đảm bảo rằng sự bảo trợ của Nhà nước là cần thiết. Bộ luật xác định quyền của nông dân được tham gia vào quá trình đưa ra quyết định liên quan đến các hoạt động nông nghiệp, sự lựa chọn các loại cây trái, vấn đề tài chính, marketing, thương mại và đầu tư. Người nông dân được ghi nhận quyền sở hữu đất đai thông qua một bản hợp đồng ký với Chính phủ, làm lại sau mỗi 40 năm để giải quyết vấn đề sở hữu chồng chéo trong Dự án và thống nhất hệ thống sở hữu.

 

2 -  Quy hoạch Halfa Al Jadeeda

 

 

Dự án Quy hoạch Halfa Al Jadeeda gắn liền với Thỏa thuận Nước sông Nile năm 1959 phân chia việc sử dụng nước ở sông Nile giữa Xu-đăng và Ai Cập. Ai Cập được phép xây dựng Đập Lớn (High Dam) để trữ phần nước của họ. Và ở Xu-đăng, hồ Nuba được mở rộng ở biên giới phía Bắc Xu-đăng. Kết quả là nước sông Nile đã nhấn chìm thành phố Halfa lịch sử và người dân thành phố phải di cư tới vùng Batana ở bang Kassala. Trong nỗ lực giải quyết vấn đề người dân di cư và để mở đường cho họ quay lại với nghề nông nghiệp, Chính phủ đã xây dựng đập Khashm Al-Gerba ở miền Đông Xu-đăng để tưới tiêu cho 500.000 feddan diện tích cây trồng, 20.000 feddan được quy hoạch để đền bù cho người dân di cư bị mất đất do việc xây dựng hồ và 60.000 feddan đất được dùng trong việc xây dựng các khu liên hợp trồng cây lấy đường, cây lạc, và các sản phẩm lúa mỳ trên diện tích 450.000 feddan.

 

Vùng Butana rất giàu các nguồn tài nguyên vật nuôi, đặc biệt là gia súc và cừu, do vậy, tạo ra nhiều cơ hội thúc đẩy đầu tư vào sữa và các sản phẩm về sữa phục vụ xuất khẩu. Dự án Quy hoạch này nối liền với Port Sudan bằng đường nhựa.

 

3-     Dự án Quy hoạch Nông nghiệp Rahad

 

Dự án được thiết lập vào nửa cuối của những năm 70, áp dụng trong phạm vi các bang Gadaref và Gezira. Diện tích của Quy hoạch ước tính 800.000 feddan, trong đó có 30.000 feddan đã được canh tác. Công tác chuẩn bị cho phần diện tích còn lại đang được tiến hành. Dự án quy hoạch này áp dụng hệ thống thâm canh luân phiên trong đó mỗi khu vực của Dự án sẽ được canh tác từng quý trong năm để sản xuất bông (sợi vừa), lạc, lúa miến và lúa mỳ.

 

Rất nhiều khu vực của Quy hoạch nối liền với hệ thống đường nhựa và đường cao tốc chính từ thủ đô Khartoum đến cảng chính trên Biển Đỏ. Dự án Quy hoạch này tạo ra các sản phẩm cây trồng và vật nuôi phục vụ xuất khẩu.

 

Đất quy hoạch lấy nước tưới tiêu từ sông Nile bằng hệ thống bơm cỡ lớn đẩy nước từ kênh chính ở phía Nam của khu vực quy hoạch. Sau đó nước sẽ được đưa qua ống xi-phông kéo qua sông Dinder để chảy vào khu vực quy hoạch.

 

4-     Dự án Quy hoạch Nông nghiệp Suki

Khu vực Dự án Quy hoạch Suki nằm ở bang Sennar, được coi là quy hoạch cấp bang nhỏ nhất với diện tích 85.000 feddan. Chi phítưới tiêu của dự án Quy hoạch này là cao nhất so với các quy hoạch khác do chi phí của hệ thống bơm đẩy. Hệ thống hoạt động luân canh hàng quý được thiết kế để trồng bông (sợi vừa), hạt lạc, lúa miến, lúa mỳ và hướng dương.

 

Khu vực quy hoạch của dự án là nơi trồng cỏ cho đàn gia súc Kenana, loại gia súc nổi tiếng vì cho nguồn sữa dồi dào. Điều này làm cho quy hoạch dự án thích hợp với việc thiết lập các dự án nhỏ về sữa và các sản phẩm từ sữa.

 

5 - Dự án Quy hoạch Sondus

 

 

Dự án Quy hoạch này là một trong những hoạt động đầu tư hiện đại nhất ở khu vực kinh tế tư nhân. Khu vực dự án nằm ở Bang Nam Khartoum qua 3 bang (Khartoum, Gezira và Nile Trắng) với diện tích khoảng 100.000 feddan.

 

Mục tiêu của dự án là an ninh lương thực và tạo cơ hội cho đầu tư thương mại, nông nghiệp và công nghiệp.

Khu vực dự án được cung cấp nước tưới tiêu bằng hệ thống bơm điện lấy nước từ sông Nile. Đất trồng ở đây thích hợp với canh tác các cây lương thực, rau, cỏ làm thức ăn gia súc, và các sản phẩm lâm sản không phải là gỗ. Ở đây cũng thích hợp với nghề chăn nuôi, các sản phẩm sữa và thịt.

 

Dự án bao gồm rất nhiều nguồn đầu tư phong phú. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các nông trại có hoặc không đất để xây dựng nhà ở đều tồn tại trong khuôn khổ dự án. Trong khu khu vực đầu tư thành thị, thị trấn Al-Gairwan là một vùng dân cư được quy hoạch thành các khu vực có diện tích từ 600 đến 900 m2, có đầy đủ các dịch vụ cơ bản, và các nguồn đầu tư công nghiệp, thương mại và du lịch cũng rất sẵn có.

 

ĐÓNG GÓP CỦA NGÀNG NÔNG NGHIỆP VÀO TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI VÀ GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU

 

Đóng góp của ngàng nông nghiệp vào tổng sản phẩm quốc nội đã tăng từ 20% năm 1988/89 lên gần 45% năm 2003/04. Ngành xuất khẩu nông nghiệp đã chứng kiến sự tăng trưởng bền vững từ những năm 90 khi giá trị xuất khẩu của nông nghiệp đã tăng từ 85 triệu USD năm 1995 lên đến 369,5 triệu USD năm 2004, chiếm 50% tổng sản phẩm xuất khẩu không phải là dầu.

 

Các nguồn lợi gia súc và thủy hải sản

 

Xu-đăng được coi là quốc gia có số lượng động vật lớn nhất trong Thế giới A Rập và thứ 2 ở châu Phi.

 

̉

 

Số lượng phong phú các loài động vật ở Xu-đăng ước tính là khoảng 135 triệu đầu cừu, dê, và ngựa, thêm vào đó là các loại gia cầm. Ở Xu-đăng cũng rất phong phú về các động vật hoang dã.

 

Các loài cá sông và cá biển ở Xu-đăng có trữ lượng tương đối lớn, ước tính cho sản lượng hơn 110 tấn mỗi năm. Các loài sinh vật thủy sinh cũng rất phong phú trong môi trường nước sông và nước biển.

 

Các dạng sản phẩm chăn nuôi ở Xu-đăng được chia thành các loại sau:

 

1-     Dạng truyền thống: Đây là dạng phổ biến nhất, chiếm khoảng 80-90% tổng số lượng sản phẩm chăn nuôi, cung cấp phần lớn lượng thịt đỏ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

2-     Dạng hiện đại: Phụ thuộc vào việc chăn nuôi gia súc lấy sữa và vào sản phẩm gia cầm ở nhiều vùng khác nhau ở thủ phủ của các bang và trung tâm đô thị.

3-     Dạng chuyển giao giữa hai dạng trên

4-     Chăn nuôi tại hộ gia đình

 

Các nguồn lợi gia súc chiếm khoảng 20% sản phẩm quốc nội. Xu-đăng có thể tự túc nguồn thịt đỏ và trắng và khoảng 70% nguồn sữa.

 

Xu-đăng có cơ cấu cơ sở hạ tầng dành cho chăn nuôi rất phát triển, trong đó có hệ thống các phòng thí nghiệm thú y chuyên dụng với 10 phòng thí nghiệm trên khắp các bang của cả nước, hệ thống các phòng thí nghiệm này được xây dựng và phát triển thành hệ thống phòng thí nghiệm lớn nhất ở châu Phi. Các trạm phát triển giống cũng được thiết lập cùng với các thiết bị kiểm tra sức khỏe cho vật nuôi và phòng dịch; ngoài ra còn có các nông trại sữa và gia cầm thử nghiệm, các trạm kiểm dịch, các lò mổ và các điểm kiểm dịch thú y.

 

Lai giống vật nuôi

 

 

Bò: Phân bố địa lý các loại gia súc này gắn liền với phân bố dân cư, do vậy, gia súc phổ biến ở các vùng phía Tây, phía Nam và miền Trung Xu-đăng.

 

Dựa vào năng suất, các loại bò được phân chia thành:

 

-          Loại lấy sữa (ở vùng Kinana – Buttana)

-          Loại lấy thịt (Sanga và Nilotic)

Nilotic (bò ở vùng dọc sông Nile) bao gồm: bò Dinka và Shuluk, bò Kinnana, Baggara, Beja, Ingassena, Tabossa (gồm Mureli và Tabossa, và bò vùng Nuba.

 

Cừu: Ở Xu-đăng có 2 loại cừu khác nhau: Loại thứ nhất là loại gầy có tai, bao gồm giống cừu miền Bắc Xu-đăng, cừu Tây Phi và cừu miền Nam Xu-đăng.

 

Cừu miền Bắc Xu-đăng: bao gồm giống cừu sa mạc, thường thấy ở vùng lưu vực sông Nile lên đến phía biên giới Ê-ti-ô-pia ở phía Đông và Jebel Marra ở biên giới phía Tây của Xu-đăng.

 

Cừu Gezira và Buttana: còn gọi là cừu Al-Abraq, Al-Gezira và Al-Dabass.

 

Cừu Wanteesh: Sống ở khu vực đất sét trên vùng sông Nile Trắng về phía Tây và Nam của Al-Gezira kéo dài đến khu vực Tonj của vụng Thượng Nile.

 

Cừu Al-Meidoub: Vùng Bắc Darfur.

 

Cừu Beja: Vùng Đông Xu-đăng.

 

Dê:

 

 

Có 4 loại dê chính ở Xu-đăng: dê Nuba, dê sa mạc, dê Nubian (còn gọi là dê sông Nile) và dê đồi (dê Al-Tagar).

 

Lạc đà:

 

Đây là nguồn thức ăn chính ở vùng sa mạc và bán sa mạc, nơi những người chăn nuôi phụ thuộc vào sữa của đàn lạc đà. Xu-đăng xếp thứ 2 trên thế giới về số lượng lạc đà và xếp thứ nhất ở Châu Phi và vùng A Rập. Lạc đà được chia thành các loại sau:

  1. Lạc đà chở hàng: chiếm 90% tổng số lượng lạc đà, phân bố trên diện tích rộng lớn ở vùng sa mạc và bán sa mạc, được phân chia nhỏ thành các loại sau:

-          Lạc đà Al-Rashiydi, phân bố ở vùng Biển Đỏ

-          Lạc đà A Rập, phân bố rộng khắp cả nước, đặc biệt là ở phía Đông sông Nile, bao gồm loại sáng màu và loại lạc đà lớn).

-          Lạc đà Al-Arabawai, phân bố ở Darfur lên đến biên giới Libya.

 

  1. Lạc đà dùng để cưỡi, bao gồm:

-          Lạc đà Al-Shukri và Al-Juhani: phân bố ở vùng Kassala, đây là giống lạc đà đua, thường được xuất khẩu sang các nước A Rập.

-          Lạc đà Al-Bishari: đây là giống lạc đà dùng để cưỡi tốt nhất, thường phân bố ở các bang phía Tây.

 

CÁC HÌNH THỨC CHĂN NUÔI

 

Được chia thành hai loại: truyền thống và hiện đại

 

Truyền thống: Chăn nuôi du mục, chăn nuôi luân phiên, chăn nuôi bán cố định và chăn nuôi cố định.

 

Hiện đại: chăn nuôi ở hộ gia đình tự cung tự cấp hoặc để làm kinh tế, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ trợ giúp cơ bản.

 

THÚ Y

 

Về các vấn đề thú y và kiểm soát dịch, Bộ Nguồn lợi Động vật phụ thuộc vào các kế hoạch của Văn Phòng Quốc tế về Dịch ở Động vật để xây dựng chiến lược một quốc gia không có dịch bệnh trong chăn nuôi dựa vào công tác xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu.

 

Về lĩnh vực kiểm soát dịch bệnh động vật, Xu-đăng được chia thành bốn vùng vành đai kiểm soát; mỗi vành đai đều có trách nhiệm kiểm soát và ngăn chặn dịch bệnh.

 

Kiểm dịch Thú y

 

Công tác kiểm dịch được tiến hành ở các thành phố Port Sudan, Al-Kadro, Wadi Halafa và Al-Rahad với số lượng 223.000 đầu dê, cừu và 12.000 đầu bò và lạc đà. Người ta đang nỗ lực hết sức để mở rộng hoạt động kiểm dịch bằng việc thiết lập các cơ sở kiểm dịch mới Malit, Kutum, Dongla, Hamarat al-Wizz, Al-Ebaidiya, Al-Gadrif, và các trạm kiểm duyệt ở Argin, Um-Rawaba, Al-Khewyi cùng với các trạm kiểm duyệt cũ.

 

Lò mổ

 

 

Hội đồng Nghiên cứu Nguồn lợi Động vật đặc biệt coi trọng đến công tác thực nghiệm tại địa bàn về vấn đề nguồn lợi động vật, chẩn đoán bệnh, đánh giá mức độ miễn dịch trong đó đề cao việc nghiên cứu các loại bệnh lây lan trên phạm vi quốc tế. Cơ quan này cũng có trách nhiệm đối với số lượng và chất lượng các sản phẩm vắc xin. Sự phát triển các nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới bằng việc sử dụng hệ thống lên men đã dẫn đến sự đa dạng hóa các sản phẩm vắc xin phòng bệnh nhiễm trùng máu và các bệnh khác của vật nuôi. Hội đồng công cộng cung cấp các dịch vụ thú y và khu vực tư nhân chịu trách nhiệm phân phối thuốc và các thiết bị thú y.

 

Chăn nuôi

 

Cùng với việc tăng sản lượng sữa, giảm gánh nặng nhập khẩu, Bộ Nguồn lợi Động vật đã có những nỗ lực trên diện rộng nhằm cải thiện nguồn gien của gia súc nuôi lấy sữa thông qua việc thụ tinh nhân tạo, các trung tâm thụ tinh nhân tạo được mở ở: Khartoum, Al-Gezira, Bắc Kordofan, Sông Nile, và Miền Bắc. Giống bò thuần chủng nhập ngoại Frisian Gerass và giống dê mới Al-Saanin được đưa vào chăn nuôi với mục đích đạt được sản lượng sữa đáp ứng nhu cầu trong nước. Những trung tâm cải tiến giống dê được mở ở Khartoum và bang Sông Nile, vật nuôi cũng được đưa vào chuỗi quy trình sản xuất nông nghiệp trong đó sử dụng các sản phẩm thừa của nông nghiệp và công nghiệp để trồng cỏ làm thức ăn gia súc. Khu vực kinh tế tư nhân cũng được khuyến khích sản xuất giống gà thương mại để phát triển ngành chăn nuôi gia cầm ở Xu-đăng.

 

 Chỉ dẫn về thú y

 

Đây là một công cụ quan trọng phục vụ công tác chuyển dịch ngành chăn nuôi đảm bảo chất lượng và số lượng. Nó đóng vai trò cầu nối giữa nhà sản xuất và trung tâm nghiên cứu thông qua việc áp dụng các nghiên cứu khoa học của các ngành liên quan. Nó cũng đem lại những ý kiến xây dựng để phát triển và định hướng nghiên cứu khoa học để giải quyết các vấn đề thực nghiệm.

 

Việc mở rộng công tác thú y đóng vai trò thiết yếu về mặt này thông qua sự thiết lập các trạm hướng dẫn trong nước, đào tạo nông dân cũng như xây dựng một cơ chế liên kết nghiên cứu với chỉ đạo thông qua dự liệu của các chuyên gia và các nguồn thông tin.

 

CƠ SỞ VẬT CHẤT

 

Vùng Miễn Dịch

 

Vùng miễn dịch được thiết lập năm 1972 để hiện thực hóa những mục tiêu sau:

  1. Kiểm soát và xóa các đại dịch ở vật nuôi, các bệnh ở vật nuôi và các bệnh thông thường.
  2. Đối phó tình trạng đại dịch ảnh hưởng đến an ninh.
  3. Nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩm vật nuôi xuất khẩu.
  4. Đảm bảo xuất khẩu đều đặn trong năm và xây dựng các thị trường mới

 

Biên giới của khu miễn dịch kéo dài từ bờ biển Đỏ chạy dọc theo tuyến đường sắt nối liền Khartoum – Atbara – Port Sudan.

 

Khu vực này được thiết kế riêng để đảm bảo nguồn vật nuôi và thịt cho xuất khẩu. Nó bao gồm:

  1. Kiểm dịch thú y ở Al-Kadro – Halfa – Port Sudan.
  2. Xây dựng lò mổ Al-Kadro phục vụ xuất khẩu.
  3. Các điểm kiểm tra dọc các khu vực Đông và Tây sông Nile để giám sát việc vận chuyển vật nuôi phải theo luật của khu vực miễn dịch.

 

Con đường thương mại vận chuyển vật nuôi: Có những tuyến đường vận chuyển vật nuôi từ khu vực sản xuất ở phía Đông và Tây Xu-đăng đến miền Trung là nơi tiêu thụ và là thị trường xuất khẩu. Các dịch vụ thú y cũng được cung cấp cho các nhà sản xuất.

 

NGHỀ THỦY SẢN Ở SÔNG NILE

 

Xu-đăng có nguồn cá phong phú trên sông Nile và các nhánh của con sông này, từ hồ ở các con đập, và từ biển Đỏ. Nuôi trồng cá cũng được tiến hành ở các ao nước và các con kênh của các hệ thống tưới tiêu lớn.

 

Hải sản:

 

Xu-đăng có đường biển dài 720 km, khu vực kinh tế có chiều dài 91.600 km. Vì vậy ở đây có tất cả các loại cá biển.

 

Ở Port Sudan có trụ sở của các cơ quan về nghề cá, trạm nghiên cứu thủy hải sản, nhà máy cá nhỏ, chợ trung tâm, các nhà lạnh và một xưởng đóng tàu. Ở Suakin có các công ty cá, các xưởng sản xuất đá, và một xưởng đóng tàu. Thị trấn Mohamed Gole nổi tiếng với các sản phẩm về cá, sò và ốc, trong khi ở vịnh Dongan có những trang trại do ngư dân tự quản lý, đội ngũ cán bộ thủy sinh cộng với Trạm Nghiên cứu Ngư dân và Nghề cá.

 

Thủy sản:

 

 

Hải sản:

 

Xu-đăng có đường biển dài 720 km, khu vực kinh tế có chiều dài 91.600 km. Vì vậy ở đây có tất cả các loại cá biển.

 

Ở Port Sudan có trụ sở của các cơ quan về nghề cá, trạm nghiên cứu thủy hải sản, nhà máy cá nhỏ, chợ trung tâm, các nhà lạnh và một xưởng đóng tàu. Ở Suakin có các công ty cá, các xưởng sản xuất đá, và một xưởng đóng tàu. Thị trấn Mohamed Gole nổi tiếng với các sản phẩm về cá, sò và ốc, trong khi ở vịnh Dongan có những trang trại do ngư dân tự quản lý, đội ngũ cán bộ thủy sinh cộng với Trạm Nghiên cứu Ngư dân và Nghề cá.

 

Thủy sản

 

 

Nghề thủy sản xuất hiện ở hồ Nuba, ở đây có Cơ quan hành chính về nghề cá, một phòng nghiên cứu và có cơ sở vật chất tốt phục vụ ngành thủy sản bao gồm nhà lạnh với sức chứa 40 tấn, một xưởng sản xuất đá. Các cơ sở vật chất này thuộc sở hữu của công ty Tirhaga; ngoài ra, còn có một nhà lạnh thuộc sở hữu của công ty Al-Shamal.

 

Ngoài ra nghề thủy sản trên sông Nile Trắng cũng phát triển, với khu vực trải dài từ Jebel Awliya ở phía Bắc đến El-Renk ở phía Nam. Trụ sở ngành cá ở đây nằm ở Kosti nơi có các trạm nghiên cứu và các cơ sở vật chất khác của nghề cá. Xưởng sản xuất đã được đặt ở Rabak, các văn phòng thủy sản ở Jeblain, El-Duem, Al-Manjara, ngoài ra cũng có các cơ sở thủy sản ở El-Gaiger, El-Renk và Wad-Dakona bang Thượng sông Nile. Khu vực này được ưu đãi hệ thống đường giao thông và các cảng thuận tiện ở Kosti.

 

Ở hồ đập Sinar cũng có nguồn cá rất phong phú; khu vực đập Rosaries, đập Jebel Awliya và khu vực dọc theo sông Nile và các nhánh của con sông này.

 

 
Home Kinh tế Nông nghiệp