noscript_content

update_flash

get_adobe_flash

DẦU MỎ, NĂNG LƯỢNG VÀ KHAI KHOÁNG
Thứ hai, 08 Tháng 3 2010 20:36

 

 

 

Xu-đăng là một trong những nước trên thế giới giàu tài nguyên thiên nhiên, dầu mỏ, khoáng chất, và các nguồn lợi về thủy điện. Tuy nhiên việc sử dụng có ý thức các nguồn tài nguyên này chỉ được chú ý khi Bộ Năng lượng và Khai thác than được thành lập vào năm 1976, bao gồm Cục Địa chất, Tập đoàn Cung cấp nước nông thôn, Tổng công ty Dầu, Tổng công ty Ống dẫn, Cục Nghiên cứu Địa chất, Tổng công ty Điện lực và Nước sau này được tách ra do việc thành lập Bộ Điện lực.

 

Thăm dò dầu mỏ

 

Việc thăm dò dầu mỏ là một trong những thành tựu đáng kể nhất ở Xu-đăng trong thập kỷ vừa qua, khi sản lượng xăng dầu nhập khẩu chiếm đến 400 triệu $ mỗi năm, tiêu thụ phần lớn thu nhập quốc gia. Những nỗ lực đầu tiên nhằm thăm dò dầu mỏ bắt đầu từ năm 1959, sau đó công ty Chevron của Mỹ đến Xu-đăng từ giữa thập kỷ 70 đã xác nhận nguồn dự trữ dầu mỏ lớn ở quốc gia này, nhưng công ty này đã ngưng hoạt động của họ và cuối cùng rút khỏi Xu-đăng vào năm 1990.

 

Tuy nhiên, Xu-đăng quyết tâm tận dụng nguồn dầu mỏ này và nỗ lực đa dạng hóa các mối giao thương, thực hiện chính sách mở cửa với nhiều quốc gia trên thế giới. Kết quả của chính sách này là việc ra đời các tổ hợp cấp quốc gia để tiến hành chính sách về sử dụng và khai thác dầu; đến năm 1996, những cơ quan sau đã được thành lập:

 

1 – Tập đoàn Dầu mỏ Quốc gia Trung Quốc (CNPC), 40%

2 – Tập đoàn  Dầu mỏ Quốc gia Malaysia, 30%

3 – Tập đoàn quốc gia Canada (thay thế bằng 1 công ty Ấn Độ), 25%

4 – Tập đoàn Sudapet Xu-đăng, 5%

 

Và đây là bước đột phá trong ngành sản xuất dầu mỏ ở Xu-đăng.

 

Khoan thăm dò

 

Hoạt động khoan thăm dò bắt đầu từ 2 vùng Heglieg và Al-Wihda năm 1996 trong khi sản xuất quặng thương mại bắt đầu vào năm 1999 với sản lượng 20.7 triệu thùng năm 2004.

 

Xây dựng các đường ống dẫn dầu

 

Trong khuôn khổ dự án phát triển các nguồn lợi về dầu ở Xu-đăng, việc xây dựng một hệ thống đường ống dài 1610 km từ nơi sản xuất đến cảng xuất khẩu ở Biển Đỏ đã khởi đầu cho việc đưa dầu mỏ ở Xu-đăng ra thị trường quốc tế. Một đường ống dẫn dầu đã được xây dựng từ khu khai thác Fula đến nhà máy lọc dầu ở Khartoum.

 

Nhà máy lọc dầu

 

Ở Xu-đăng có 5 nhà máy lọc dầu: nhà máy lọc dầu Port Sudan, Concorp, El-Obied, Abu-Gabra và nhà máy lọc dầu Khartoum. Nhà máy lọc dầu Abu-Gabra được xây dựng năm 1992 với công suất 2000 thùng dầu/ngày, nhà máy El- Obied xây năm 1996 với sản lượng 10.000 thùng/ngày, và nhà máy Concorp ở Al-Shajara, Khartoum được xây năm 1999. Nhà máy lọc dầu Khartoum ở El-Giely được xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2000 với sản lượng 50.000 thùng dầu/ngày, giao đoạn đầu tiên của quá trình mở rộng sản xuất hoàn thành năm 2004, công suất tăng lên 62.000 thùng/ngày, công suất này sẽ tăng lên 100.000 thùng/ngày khi hoàn thành giai đoạn thứ 2 trong quá trình mở rộng này. Khâu lọc dầu đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện tự túc về sản phẩm dầu ở Xu-đăng. Sản lượng dầu ở Xu-đăng đã tăng lên 200.000 thùng/ngày cuối năm 2005 và thu nhập của chính phủ sẽ tăng lên 80%.

 

 

Việc thiết lập nhà máy lọc dầu Khartoum đã mở đường cho Xu-đăng tiến vào ngành công nghiệp hóa dầu với việc xây dựng nhà máy hóa dầu Khartoum ở El-Giely để sản xuất các sản phẩm nhựa, đây là kết quả của sự hợp tác giữa Bộ Năng lượng và Khai thác than với Tập đoàn Dầu quốc gia Trung Quốc (CNPC).

 

NGÀNH ĐIỆN

 

Ngành công nghiệp điện đã phát triển từ năm 1908 với việc lắp đặt máy phát điện công suất 100kW với dòng điện một chiều. Năm 1925, Chính phủ Xu-đăng ký kết một hợp đồng với một nhóm các công ty ở Anh để phát triển các dịch vụ điện và nước, thành lập nên công ty Ánh sáng và Năng lượng Xu-đăng. Công suất phát điện lên đến 3000 kW. Năm 1956, Chính phủ đã ký kết hợp đồng lắp đặt máy phát điện hơi nước công suất 30 MW. Năm 1962, công trình thủy điện đầu tiên được đưa vào hoạt động ở đập Sinnar với công suất 15 MW. Sau đó là các nhà máy thủy điện ở Khasm Algriba với công suất thiết kế 12,6 MW, và nhà máy điênh Al Ruseiris với công suất thiết kế 280 MW. Năm 1982, ngành điện được tách riêng ra khỏi ngành nước, sau đó, đạo luật của Tập đoàn Điện lực quốc gia được ban hành nhằm giám sát hệ thống điện quốc gia. Việc giám sát các trạm nằm ngoài hệ thống quốc gia được phân bổ cho chính quyền địa phương, Tập đoàn chỉ có trách nhiệm đưa ra các kế hoạch  và các chương trình cấp quốc gia để phát triển đất nước dựa trên việc tư vấn về kỹ thuật.

 

Công suất thiết kế của máy phát trong hệ thống quốc gia vào khoảng 1234,6 MW cuối năm 2008, 342,8 MW được sản xuất từ thủy điện, 180 MW từ nồi hơi, 45,2 MW từ máy phát điện diesel, 65 MW từ khí ga, và 450 MW từ các máy phát điện kết hợp; ngoài ra còn có các nhà máy nhiệt điện bên ngoài hệ thống quốc gia được đặt ở khắp các thành phố của Xu-đăng với công suất 151,6 MW.

 

 

NGÀNG KHAI KHOÁNG

 

Xu-đăng có nguồn tài nguyên quặng khoáng sản phong phú như vàng, sắt, đồng, cô ban, chì, silicon, mika, nhôm, kẽm, thạch cao và một vài khoáng sản khác chưa được khai thác.

 

Chính phủ rất quan tâm đến ngành địa chất và khai khoáng với việc tiến hành các nghiên cứu sâu trên khắp đất nước với mục tiêu đánh giá và thu hút các công ty trong nước và quốc tế đầu tư vào lĩnh vực này. Tổng cục Nghiên cứu địa chất đã đưa ra một chiến lược toàn diện nhằm thăm dò khoáng trên phạm vi cả nước, trong đó quặng vàng được tìm thấy ở khu vực Biển Đỏ, miền Trung và Nam Xu-đăng, sắt, đồng, kẽm và nhôm ở các dãy núi gần biển Đỏ, Darfur và Nam Kordofan.

 

Khai thác vàng

 

Xu-đăng đã hợp tác với Pháp để thiết lập công ty Khai thác vàng Ariab ở vùng Biển Đỏ. Công ty bắt đầu đi vào hoạt động năm 1992 với sản lượng 982 kilogram vàng. Sản lượng này đã tăng lên 5565 kilogram năm 1999 và đến năm 2003 đã là 8,6 nghìn kilogram. Vốn đầu tư của Ariab ước tính 36 triệu $ và góp phần tăng đóng góp của kim ngạch ngành khai khoáng và năng lượng vào kim nghạch chung của cả nước khoảng 30 tỉ dinar mỗi năm.

 

 
Home Kinh tế Dầu mỏ, năng lượng và khai thác than